Đền thờ Hoàng Bà, xã Quảng Châu, nay thuộc phường Hồng Châu thuộc thành phố Hưng Yên, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ phụng bà Trần Mã Châu, một nữ tướng tài ba đã phò giúp Nhị vua Hai Bà Trưng đánh giặc Tô Định, giành lại độc lập cho đất nước.
Theo thần phả còn được lưu giữ tại đền, nữ tướng Châu Nương là con gái của bộ chúa Trưởng Quan ở đất Nam Xương (Hà Nam). Bà là bậc nữ trung hào kiệt, có chí khí như các bậc nam nhi, tài sắc vẹn toàn, dũng lược đa mưu.
Sống trong cảnh nước mất nhà tan, dưới ách đô hộ bạo ngược của quân xâm lược Đông Hán, cha của Châu Nương cũng bị Tô Định sát hại, bà nung nấu trong lòng ý chí nổi dậy đánh giặc giữ nước, trả thù nhà. Để thực hiện tâm nguyện đó, bà đã cắt tóc giả làm ni sư đi khắp nơi, đến các chùa để gặp gỡ chiêu mộ anh hùng hào kiệt, cùng đồng tâm đứng lên giết giặc cứu nước.
Theo lời bà kêu gọi, rất nhiều nghĩa sỹ đã hội tụ cùng bà mưu tính nổi dậy đánh giặc cứu nước. Đội nghĩa binh lấy chùa làng Bảo Châu làm căn cứ chiêu mộ quân sỹ, tập hợp được hơn 200 người cả nam và nữ. Ban ngày tụng kinh niệm Phật, ban đêm luyện tập binh pháp, võ nghệ để sẵn sàng quyết chiến với quân Tô Định.
Khi nhị chúa Bà Mê Linh Trưng Trắc, Trưng Nhị dấy cờ khởi nghĩa, bà đã mang đội nghĩa binh của mình về dưới trướng của Hai Bà, cùng đại binh đánh đuổi giặc Tô Định.
Khởi nghĩa thành công, Trưng Nữ vương lên ngôi hoàng đế, phong cho Mã Châu làm “Trưởng binh Nội các trung cung nội thị”, ban tặng thưởng kim ngân 100 hốt, gấm lụa 500 vuông và thuận cho lấy đất Bảo Châu (nơi Mã Châu cư ngụ) làm thực ấp để phụng sự sau. 3 năm sau, quân Đông Hán lại sang xâm lược nước ta, Châu Nương cầm quân đánh giặc, nhưng quân Mã Viên đông và mạnh, bà cầm quân chiến đấu kiên cường, giết nhiều binh tướng giặc nhưng không thể giành chiến thắng. Khi binh tướng thuộc quyền đã hy sinh gần hết, bà cũng bị thương nặng, tàn quân đưa bà chạy về đền trang Bảo Châu thì hóa, đó là ngày 3/3 năm Ất Mùi ( năm 43 sau CN).
Để tưởng nhớ tới công lao to lớn của bà, nhân dân địa phương đã lập đền thờ, muôn đời hương hỏa. Tương truyền, đền thờ bà Châu Nương rất linh thiêng, trải qua bao triều đại đền thờ đã nhiều lần trùng tu tôn tạo tuy nhiên vẫn không hề mất đi vẻ linh thiêng, uy nghi nhưng rât giản dị. Hiện đền còn giữ được nhiều hiện vật quý như kiệu bát cống, kiệu võng, kiệu Bà, đại tự, hoành phi, câu đối... Đặc biệt là bức tượng Châu Nương được tạc bằng gỗ quý. Vẻ đẹp và công đức của bà đã được ca ngợi:
“Bảo sắc đằng không lâm Việt địa
Kim dung phóng diệu chiếu Nam thiên".
Nghĩa là: Sắc đẹp trên trời, giáng sinh nơi đất Việt – Hình dung vàng ngọc chiếu rọi khắp trời Nam).
Các triều đại đời sau đều ban sắc phong và mỹ tự cho bà.
Tương truyền đền Hoàng Bà rất linh thiêng. Các triều đại nối tiếp về sau đứng lên dẹp giặc, gây dựng cơ đồ đều được Châu Nương linh thiêng hiển ứng, âm phù giúp nước, nên lại được phong: “Thượng đẳng tối linh anh linh hiển ứng" .
Đến nay đền còn giữ được 7 sắc phong qua các triều đại. Triều Lê Thái Tổ phong cho Bà là: “Phương Dung Trinh thục Mỹ nga nhân Uyển Huệ Hoà công chúa.” Gần đây nhất là triều Khải Định năm thứ 4 (tháng 7 năm 1919), sắc phong cho Bà là: “Trinh tĩnh Trung đẳng thần".
Suốt chiều dài lịch sử, trải bao biến cố thăng trầm, đối diện với thiên nhiên dữ dội và khắc nghiệt, đền Hoàng Bà đã nhiều lần phải trùng tu tôn tạo, song vẫn luôn giữ được nét xưa; uy nghi, giản dị, thanh tao.
Hiện đền còn giữ được khá nhiều hiện vật quý giá, như: kiệu bát cống, kiệu võng, kiệu Bà, đại tự, hoành phi, câu đối, ca ngợi công đức Hoàng Bà với nhiều nội dung sâu sắc.
Cung đệ nhị ngoài tiền đường là bức đại tự gồm bốn chữ: “Từ Quang Phả Bị" (nghĩa là: Nàng phi phàm này đã quy Phật có ánh từ quang chiếu khắp, phổ độ 4 cõi).
Cũng tại đây có đôi câu đối:
“Quốc xỉ phục thù Tô thủ tội, chung dung nhất kiếm – Nhân thần nữ kiệt Trưng Vương danh cộng thám thiên hoa". (Nghĩa là: Rửa hận thù nhà nợ nước, Tô Định tham tàn, chỉ có thể bằng thanh kiếm - Người là bậc thần nữ oanh kiệt thời Trưng Vương, danh thơm lan tỏa tựa hoa trời).






Năm 1997, đền Hoàng Bà đã được Nhà nước công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Hàng năm, đền mở hội từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 3 âm lịch. Con em quê hương ở khắp mọi nơi cùng khách thập phương nô nức về dự hội, tưởng nhớ người nữ tướng anh hùng của dân tộc và ôn lại truyền thống chống ngoại xâm của ông cha ta.
Phần lễ, sau khai mạc của ban tổ chức vào sáng mồng 1, là các đoàn tế trong và ngoài xã dâng hương, theo đó là cán bộ nhân dân các thôn, các dòng họ cùng khách thập phương dâng lễ, chiêm bái nhất tâm nguyện cầu cho mưa hoà, gió thuận, mùa màng tốt tươi, bốn phương vô sự, nhân dân ấm no hạnh phúc.
Phần hội có các trò chơi dân gian, như: chọi gà, cờ tướng, múa gậy, đánh đu, giao lưu văn nghệ với nhiều tiết mục múa hát dân ca quan họ, chèo đặc sắc, ca ngợi công đức Hoàng Bà, truyền thống quê hương, đất nước. Cứ 2 năm lại tổ chức một lần rước, có múa rồng, kỳ lân, rước kiệu bát cống, kiệu Bà, với nhiều nghi thức uy nghi, lộng lẫy, hoành tráng.
Năm 1997, đền Châu Nương đã được Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia.
Nguồn: Báo Hưng Yên