Đền Hồng Phong, thuộc xã An Trang, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình, nay là thôn Hồng Phong, xã Tân Tiến, tỉnh Hưng Yên. Đền thờ Nữ tướng Thượng đẳng thần Lê Thị Cố thời Nhị vua Hai Bà Trưng. Đền được xếp hạng là Di tích lịch sử - Văn hóa cấp Quốc gia
Theo các đạo sắc phong thời Nguyễn còn giữ được ghi lại, Đức Bà Lê Thị Cố là nữ tướng trong cuộc khởi nghĩa của Nhị vua Hai Bà Trưng, được Hai Bà giao trấn nhậm vùng biển Thái Bình.
Những năm đầu Công nguyên, đất nước ta bị nhà Đông Hán đô hộ, bộ máy cai trị của thái thú Tô Định tham lam, tàn bạo, liên tục tăng phụ dịch và thuế khóa , buộc cống nộp sản vật quý hiếm, khiến người dân sống lầm than, cơ cực và thường xuyên bị người Hán đè nén, cướp đoạt trang trại, đồn điền, độc quyền buôn bán vật phẩm tiêu dùng.
Năm 40 (sau Công nguyên), Hai Bà Trưng đã giương cao ngọn cờ tụ nghĩa, kêu gọi hào kiệt bốn phương, nhân dân cả nước đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm.
Cuộc khởi nghĩa đã lập tức nhận được sự hưởng ứng của hầu hết các Lạc hầu, Lạc tướng và nhân dân ở các quận Giao Chỉ, Cựu Chân, Nhật Nam. Phong trào khởi nghĩa chống ách cai trị của Đông Hán cũng bùng phát khá sớm và lan rộng khắp thái bình thủa đó.
Những ngọn cờ khởi nghĩa chống giặc Đông Hán ở Thái Bình có thể kể đến như nữ tướng Vũ Thị Thục dấy bình ở Tiên La. Đức ông Hùng Quang Cao cùng thân mẫu là bà Đinh Thị Tố ở tổng Xích Bích, nay là xã Quỳnh Sơn, Quỳnh Phụ. Nữ tướng Nguyễn Thị Cầm Hoa ở Thanh Long Đông Hưng, Đế Đô ở Hiệp Lực An Khê. Bà Hậu Nương ở Hạ Phán xã Quỳnh Thái, Lại Công ở Đông Tiến. Bà Quế Hoa ở Việt Hùng, thuộc Vũ Thư. Bà Bát Nương ở Thụy Minh, Thái Thụy, bà Mỹ Hy cùng em là Kim Sa ở Tịnh Xuyên, Hưng Hà, Vân.
Những vị thủ lĩnh nghĩa binh đã nổi dậy chống giặc Đông Hán đều hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Nhị vua Hai Bà Trưng tại Mê Linh. Trong những tướng lĩnh của Trưng Vương còn một nữ tướng họ Lê tên Cố, hiện chưa rõ quề quán của bà.
Theo thần tích, bà là người con gái tài sắc vẹn toàn, sức địch muôn người, có uy tín lớn trong quân. Nhị chúa Hai Bà Trưng sắc phong cho bà là Tả tướng Tiền Đô Đốc bình.
Nữ tướng Lê Thị Cổ theo lệnh Trưng nữ vương, dân đại binh tiến về Hoang Xá, thấy thế đất dễ thủ khó công, có sông lớn bao quanh, rừng cây rậm rạp, bà liền truyền cho binh sĩ lập đồn doanh chặn địch.
Đại quân của Nhị vua Hai Bà Trưng sau hội thề Hát Môn chia binh hai đường đánh về Lũy Lâu, quân Tô Định thảm bại, nghĩa quân chiếm được 65 thành trì, thu lại giang sơn. Hai Bà Trưng lên ngôi vua, luận công ban thưởng. Nhị vua sắc phong cho nữ tướng Lê Thị Cổ là Đại tướng quân Trấn ải Sơn Nam.
Tháng 10 năm Quý Mão, tức năm 43 (CN), đại binh của Mã Viện ồ ạt sang xâm lược nước ta một lần nữa. Theo lệnh Trưng vương, nữ tướng Lê Thị Cố dẫn binh đánh chặn. Do thế giặc quá mạnh, quân ta không cự nổi, nữ tưỡng Lê Thị Cố buộc phải dẫn tàn binh chạy về làng Bái Thượng, Bái Hạ thuộc Đông Quan cũ rồi lại tiếp tục rút về Hoàng Xá tức Làng Vàng (Viềng) và tử chiến tại đây. Bà đã hy sinh anh dũng trên một gò cao, gọi là gò Miếu Viềng.
Sau khi nữ tướng Lê Thị Cố tử trận, dân Làng Vàng (làng Viềng) đã bí mật an táng bà, lập ngôi miếu nhỏ, gọi là Miếu Viềng để phụ thờ, tưởng nhớ và tôn vinh vị nữ danh tướng đã anh dũng hy sinh vì đất nước.
Năm 968, sau khi dẹp xong loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế (tức Đinh Tiên Hoàng), đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt và định đô ở Hoa Lư (Ninh Bình). Một lần, vua về thăm quê ngoại tại làng Đọ, nay là xã Đông Sơn, huyện Đông Hưng. Đinh Tiên Hoàng đế đã vào bái yết miếu Viềng, ban thưởng và truyền cho dân trong vùng trùng tu miếu Viềng. Đến thời Trần và các đời sau đều có sắc phong tặng bà là: “Liệt Nữ tướng Quân và Liệt Thị tướng Quân tôn thần”.
Miếu Viềng hiện nay đã được trùng tu và nâng cấp, sau một thời gian hoang tàn độ nát kéo dài. Trong miếu còn lưu dữ một bài vị và hai sắp phong thần của hai đời vua thời Nguyễn là vua Thành Thái và Thiệu Trị, cùng một kiệu rồng có phong cách của thế kỷ thứ 18.




Sắc phong triều Nguyễn ghi rõ: Đức bà Nam Hải Tôn thần, thần công thánh đức, lũy thứ gia tăngng, quảng trạch nhậm trạch, long chiêm bắc lợi, uông nhuận đại vương, Hoàng hợp Thượng Đằng thần, truyền cho nhân dân Hoàng Quân xã Tòng tiền phụng sự, trùng tu miếu tích, chính lệ ngày 11 tháng 3 Am lịch.
Trưng Nữ vương triều công thần, Lễ Thị Đại vương phà lục. Hồng phúc Nguyên niên, Hàn Lâm viện, Đồng Các Đại học sĩ Nguyễn Bính Phụng soạn.
Đất Hồng Phòng trước thuộc khu Hoàng Xá, những người thôn Hồng Phong đều tự nhận có nguồn gốc xuất thân từ làng Vàng (tức làng Viềng). Khi dân cư đông đúc, địa giới bị chia sẻ, người dân Đông Phong đã xây dựng đền Đông Phong để thờ phụng vị Thành hoàng làng, nữ danh tướng Lê Thị Cổ.
Lễ hội thường niên Đền Hồng Phong được tổ chức vào ngày 13 tháng 3 Âm lịch.
Nguồn: Hà Nội Travel