Đình Hữu Nghi thuộc tổ dân phố Hữu Nghi, phường Vân Hà, tỉnh Bắc Ninh. Đình thờ Thánh Tam Giang (Trương Hống, Trương Hát) thời Triệu Việt Vương, phối thờ Cao Sơn Đại vương, Quý Minh đại vương thời Hùng Vương.
Đình Hữu Nghi còn được gọi là Đình Hữu Lân (tên gọi từ thời Hậu Lê trở về trước), trước thuộc thôn Hữu Nghi, xã Ninh Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, một trong số hơn 300 đình làng thờ đức thánh Tam Giang dọc hai bờ sông Cầu (Nguyệt Đức) từ Ngã Ba Xà đến Lục Đầu Giang.

Đình Hữu Nghi nhìn theo hướng Nam – ra sông Cầu thơ mộng. Căn cứ vào kết quả khảo sát về hiện trạng di tích các tài liệu hiện vật ở đây, hệ thống bia đá (hậu thần), có thể xác định đình Hữu Nghị được xây dựng từ thời hậu Lê (thế kỷ XVIII). Hiện còn lưu giữ được hai tấm bia cổ ghi niên hiệu Vĩnh Thịnh (từ năm 1706 đến 1719) đời vua Lê Dụ Tông.
Đình làng Hữu Nghi đã trùng tu sửa chữa nhiều lần vào triều Nguyễn; hiện đình vẫn rất vững chắc, được nhân dân địa phương quan tâm bảo vệ chu đáo.
Đình Hữu Nghi gồm cổng đình, sân đình và tòa Đại đình
Đại đình có bố cục kiến trúc kiểu chữ Đinh gồm tòa Tiền tế và tòa Hậu cung . Các vì kèo kiểu chồng rường, giá chiêng, kẻ truyền, xà nách.
Tòa Tiền tế 3 gian, 2 chái, 4 mái thấp uốn đầu đao, bờ nóc đắp nề Lưỡng long chầu Nhật. Các đầu đao gắn đầu rồng. Trong tòa Tiền tế bầy ban thờ Công đồng.
Tòa Hậu cung 2 gian, kiểu tường hồi bít đốc, trong Hậu cung bầy ban thờ, ngai thờ và bài vị của Thánh Tam Giang.
Nghệ thuật chạm khắc ở đây chủ yếu tập trung ở các mảng thuộc gian giữa toà đại đình, theo chủ đề tứ linh (long, ly, quy, phượng), tứ quý (tùng, trúc, cúc, mai) xen lẫn các hình hoa lá cách điệu, rồng hóa trúc, phương múa…
Đình Hữu Nghi nổi bất với bức cửa võng đặc sắc cổ được chia thành các không gian khác nhauTầng trên là hình lưỡng long chầu vào nhau, hàng thứ hai chia thành 5 ô: ô giữa hình chữ nhật khắc ở trong 3 chữ Hán “Tối linh từ” sơn son thếp vàng rực rỡ, các ô kia hình vuông bên trong chạm hình phượng múa và hoa lá cách điệu. Hai hàng bên dưới cũng phân thành các ô hình học phát triển theo chiều ngang của đình, bên trong chạm lộng các hình tứ linh và hoa lá cách điệu.
Cửa võng là thành phần chạm khắc nghệ thuật thuộc loại hình di tích kiến trúc- nghệ thuật, nối liền hai cột bên trong gian giữa với nhau làm rực rỡ hơn lên không gian trong đình. Tầng trên là hình lưỡng long chầu vào nhau, hàng thứ hai chia thành 5 ô: ô giữa hình chữ nhật khắc ở trong 3 chữ Hán “Tối linh từ” sơn son thếp vàng rực rỡ, các ô kia hình vuông bên trong chạm hình phượng múa và hoa lá cách điệu. Hai hàng bên dưới cũng phân thành các ô hình học phát triển theo chiều ngang của đình, bên trong chạm lộng các hình tứ linh và hoa lá cách điệu.
Hai bên diềm cửa võng chạm khắc đôi rồng hoá rực đăng tự thế lao xuống, cùng với phần râu chấn bên trên tạo thành hình lưỡng mãng ôm che các ô trang trí bên trên cửa võng.
Dọc theo diềm hai bên cửa võng có hai ô dài chạy thẳng từ trên xuống cách chân cột 0,7cm, tạo thành đôi câu đối chữ Hán thếp vàng, nền sơn son rực rỡ nội dung ca ngợi đức thánh được thờ ở trong đình Đầu dưới hai câu đối có hai ô vuông như bên trên, ở trong chạm hai con ly liễn rất sinh động.
Đình Hữu Nghi không còn giữ được các tài liệu cổ như sắc phong, thần phả, văn tế… Tra cứu hồ sơ lưu trữ tại Viện thông tin khoa học xã hội, vào năm 1938 theo bản kê khai thần tích, thần sắc của làng thì vào thời điểm đó tại đình có 04 đạo sắc phong đời vua Thiệu Trị (năm 1846), 03 đạo sắc phong đời vua Tự Đức (các năm 1850 và 1879), 01 đạo sắc đời vua Đồng Khánh (năm 1887), 01 đạo sắc đời vua Duy Tân (năm 1909), 01 đạo sắc đời vua Khải Định (năm 1924).
Về hoành phi, câu đối cổ tại đình còn giữ được ít câu đối, như trên có bộ cửa võng gỗ cổ trước tiền tế có bức hoành phi “Tối linh từ” (Linh thiêng nhất), hai bên có câu đối:
Giang gian chiến hạm trung huynh đệ
Thiên thượng ngâm thi tiệt Bắc Nam.
Dịch là:
Giữa sông thuyền đắm, tỏ lòng trung hai anh em
Trên trời ngâm thơ, phân rạch rõ Nam Bắc.
Một câu khác có nội dung như sau:
Phúc dân khả bái tam công tước
Thọ thánh năng hô vạn tuế thanh.
Dịch là:
Phúc dân có thể bái tước Tam công
Chúc thánh có thể hô tiếng Vạn tuế.
Về bia đá, tại đình Hữu Nghi còn giữ được 02 tấm bia đá cổ, dạng bia tứ diện (04 mặt), một bia là “Lưu trạch bi văn, vĩnh thùy phụng sự” ghi công đức và lập hậu thần vào niên hiệu Vĩnh Thịnh của vua Lê Dụ Tông năm Nhâm Thìn (1712) và một bia “Hậu thần bi ký” là bia lập hậu thần vào thời nhà Nguyễn niên hiệu Tự Đức năm Quý Dậu (1873) ngày 12 tháng Giêng.\
Nguồn: Bách Việt Trùng Cửu