• Home
  • Site Map
  • Contact
  • Login
  • Subscribe
Side Logo

Travel News

Trang tin du lịch

  • Home
  • Tin tức - Sự kiện
    • Thống kê du lịch
    • Chuyện lạ
  • Dịch vụ du lịch
    • Khám phá
    • Ẩm thực
    • Người Du lịch
    • Dự án đầu tư Du lịch
  • Visa, hộ chiếu
  • Thông tin cần biết
    • Đến Việt Nam
    • Tại Việt Nam
    • Giao thông
    • Thông tin khác
  • Văn Hóa
    • Giá trị lịch sử
    • Ngôn ngữ văn học
    • Lễ hội, trò chơi dân gian
    • Nghệ thuật biểu diễn
    • Trang phục
    • Kiến trúc, mỹ thuật
    • Món ăn, hoa, trái
    • Chợ Việt Nam
    • Phong tục tập quán
    • Tín ngưỡng - Tâm linh
    • Tết Việt Nam
  • Kinh nghiệm du lịch
  • Nhìn ra thế giới
  • Doanh nghiệp du lịch
Thông tin cần biếtTại Việt Nam
  • UKEnglish

Giá trị lịch sử

Đình Trùng Thượng, nét đặc sắc của nghệ thuật chạm khắc thời Hậu Lê

Đình Trùng Thượng thuộc thôn Tùy Hối, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, nay là xã Gia Tân, tỉnh Ninh Bình. Đình thờ phụng thành hoàng làng là Đông Hải đại vương Nguyễn Phục, Sóc Giang Đại vương, Thái phó Tô Hiến Thành, Nguyên Từ Quốc mẫu và Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng.

Đình Trùng Thượng thuộc thôn Tùy Hối, xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, nay là xã Gia Tân, tỉnh Ninh Bình. Đình thờ phụng thành hoàng làng là Đông Hải đại vương Nguyễn Phục, Sóc Giang Đại vương, Thái phó Tô Hiến Thành, Nguyên Từ Quốc mẫu và Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng.

Vào khoảng thế kỷ 17, thôn Tùy Hối tách thành hai thôn Nam Phúc và Phú Nha. Mỗi thôn lập một đình riêng, nên đình còn được gọi là đình Phú Nha. Tên gọi đình Trùng (đình Trùng Thượng và đình Trùng Hạ), bởi có liên quan đến thờ cùng vị Thành hoàng Đông Hải đại vương Nguyễn Phục. Cũng có ý kiến cho rằng gọi đình Trùng, vì hai ngôi đình làm giống nhau, được làm cùng một thời điểm. Dân hai thôn rất tự hào về ngôi đình của mình, nên mới có câu ca; “Núi Thiệu có đổ thì đình Trùng mới xiêu”.

Không gian cảnh quan đình Trùng Thượng từ hướng Đông Nam.

Đình Trùng Thượng thờ phụng các vị thành hoàng là Đông Hải đại vương Nguyễn Phục), Sóc Giang Đại vương, các vị nhân thần là Thái phó Tô Hiến Thành, hai mẹ con bà Trang Nương - Nguyên Từ Quốc mẫu và Trần Quốc Tảng.

Thần chủ của đình là Đông Hải đại vương Nguyễn Phục. Theo thần phả, vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470) vua Lê Thánh Tông tiến đánh quân Chiêm Thành, Nguyễn Phục được phong làm Đốc vận quân lương. Nhưng do thuyền lương đến cửa biển Thần Phù và cửa Càn (Yên Mô) gặp bão to sóng lớn, sợ thuyền lương bị đắm chết nhiều người, Nguyễn Phục cho dừng thuyền, cứu được nhiều mạng người. Do đó thuyền lương bị chậm. Ông bị vua Lê xử tội chết.

Sau khi chiến thắng Chiêm Thành trở về, biết rõ sự việc, vua Lê sắc phong ông làm phúc thần làng Cổ Đà (Yên Mô). Nhiều làng ông đi qua, nhân dân đã lập đền thờ. Thái phó Tô Hiến Thành là vị đại quan triều Lý, sinh thời có công nhiều với đất nước, gắn bó với vùng đất này và được vua ban thực ấp ở phủ Trường Yên, sau khi ông mất nhiều nơi trong khu vực đã lập đền thờ phụng.

Tương truyền, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng và thân mẫu đã có công chiêu dân lập ấp, khai mở làng Tùy Hối, được nhân dân phụng thờ.

Di tích nhìn từ mặt đứng hướng Nam tòa Đại bái

Trong một năm, tại đình Trùng Thượng tổ chức nhiều lễ hội khác nhau, trong đó (theo âm lịch) có các ngày: 15 tháng Giêng (Tế Thượng nguyên); 24 tháng Sáu lễ Thượng điền (lên đồng) tế Thần nông; 12 tháng Tám kỉ niệm ngày sinh Trần Quốc Tảng, có lệ rước sắc ở đền Quan Mẫu lên đình, đến cuối ngày lại rước về. Lễ hội chính ở đình Trùng Thượng và đình Trùng Hạ được tổ chức từ ngày mùng 1 đến mùng 4 tháng Mười, kỉ niệm ngày sinh Quốc Mẫu, hai làng tổ chức so le nhau. Từ ngày mồng 1 thực hiện nghi thức “thay miều” (tức thay áo), ngày mồng 2 tổ chức rước sắc từ đình nọ sang đình kia để thờ (mỗi thôn luân phiên giữ sắc 1 năm). Sau lễ rước sắc, tổ chức các trò chơi dân gian như đánh đu, múa rối, đánh cờ người…thu hút được đông đảo người dân tham dự.

Đình Trùng Thượng quay hướng Nam, trông ra sông Hoàng Long uốn khúc. Theo quan niệm của người dân địa phương, đình tọa lạc trên một khu đất cao ráo, trên thế nghiên bút, đằng sau có gò Sứ dài 5 - 6m.

Xung quanh là cánh đồng rộng, đình nổi lên như một ốc đảo, hài hòa giữa kiến trúc và môi trường thiên nhiên. Trước cổng đình có khoảng sân rộng lớn, là nơi tổ chức lễ hội hàng năm. Đường liên thôn năm ở phía Đông đình.

Những dấu vết trên kiến trúc, điêu khắc trang trí hiện còn ở đình Trùng Thượng cho thấy, đình được khởi dựng vào thế kỷ XVII, bố cục kiểu “chữ nhị” gồm Đại bái và Hậu cung. Sau đó, đình được xây thêm Nghi môn tứ Trụ biểu, nhà Tả vu, Hữu vu.

Không gian nội thất toà Đại Bái

Nhà Tả vu, Hữu vu 3 gian, các cấu kiện kiến trúc, hoa văn chạm khắc trang trí được thực hiện theo phong cách nghệ thuật phù hợp với tổng thể ngôi đình.

Tòa Đại bái 5 gian xây kiểu tường hồi bít đốc, hai mái lợp ngói ri. Đại bái có 5 gian kiểu tường hồi bít đốc, 4 bộ vì kèo. Trước đây, ngoại trừ gian chính điện, các gian còn lại lắp sàn gỗ phục vụ cho sinh hoạt cộng đồng.

Các vì nóc ở gian giữa và gian bên phải được làm kiểu vì kèo nọc ngựa. Đây là một kiểu liên kết khá hiếm, với một trụ trốn chống thẳng lên thượng lương, hai bên gắn hai rường cụt để tạo các điểm đỡ hoành. Đỡ thượng lương ở gian giữa còn có một dép nóc được tạo tác kiểu đấu củng khá lớn.

Các vì nóc còn lại được làm kiểu chồng rường biến thể. Liên kết dưới câu đầu ở hai hồi còn có xà lòng, khoảng giữa hai cấu kiện này là những xà vách và các bức cốn được chạm khắc tinh xảo, tạo nét đặc sắc riêng của ngôi đình này. Các vì nách có hai kiểu: kẻ suốt và chồng rường, trong đó các kẻ suốt mới được thay thế vào thời Nguyễn.

Theo lời kể của những người dân trong làng thì khi dựng đình làng phải nhờ đến sức voi kéo gỗ (hiện còn mồ voi nằm giữa cánh đồng của làng) và sự tích đình Trùng Thượng gắp được cột to, nên cột cái của đình này có đường kính to nhất vùng, cột cái lớn nhất kích thước 0,58m.

Kết cấu trang trí vì nách hồi phải Đại Bái- Phong cách nghệ thuật thế kỉ XVII

Hậu cung 3 gian 2 dĩ nhỏ, 2 mái, lợp ngói di. Các vì nóc và vì nách kiểu chồng rường (riêng vì nách gian giữa dùng kẻ suốt). Cửa ra vào Hậu cung được làm trên hàng cột cái phía trước, hai bên hồi và phía sau xây tường bao.

Đình Trùng Thượng độc đáo và nổi bật với nghệ thuật chạm khắc trên cấu kiện gỗ với những hình tượng phong phú, từ chủ để truyền thống tứ linh như rồng, phượng, lân đến đời thường như con người, hoa lá, cỏ cây theo các tích cổ dân gian.

Rồng là hình tượng phổ biến nhất, được chạm trên nhiều cấu kiện ở Đại bái, tuy nhiên mỗi mảng chạm có những nét đặc sắc khác nhau. Rồng có chỗ được chạm đơn, nhưng có chỗ lại chạm theo kiểu rồng ổ, hoặc được chạm kết hợp với nhiều hình tượng khác.

Trên cửa võng ở hàng cột cái phía sau Đại bái, rồng được thể hiện theo chủ đề Lưỡng long chầu Nhật mang phong cách nghệ thuật giữa thế kỷ 7. Trên các đầu kẻ phía trước Hậu cung và gian giữa Đại bái, rồng được chạm trong bố cục tứ linh, đầu được chạm kênh bong nổi hẳn ra ngoài mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn.

Trang trí trên vì nóc hồi Đại Bái- Phong cách nghệ thuật thế kỉ XVII

Chim phượng được chạm trên ván nong xà dọc cột cái sau gian giữa Đại bái theo phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Đôi phượng chạm nổi, đường nét bay múa sinh động, đậu trên hai râu bờm đao mác lớn của rồng.

Chim phượng có phong cách nghệ thuật muộn hơn được chạm trên thân kẻ suốt ở Hậu cung, kiểu phượng hàm thư trong bố cục tứ linh. Ngoài chim Phượng còn có đôi hạc được chạm đơn ở hai đầu y môn của Đại bái, bằng kỹ thuật chạm thủng, cánh lớn, chân cao, mỏ cò dài, mắt hình ô van, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII.

Lân được chạm nhiều trong tòa Đại bái. Trên các vì nách, vì nóc đầu hồi, lân có thân mập mạp, có vẩy hoặc để trơn, đầu to, miệng rộng, tai ngắn, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII. Đặc biệt nhất là bức chạm bầy lân trên ván gió, 6 con lân đang nối đuôi nhau, mỗi con một dáng vẻ, một tư thế, xung quanh chạm đao mác, thú nhỏ.

Hình tượng người được chạm khắc không nhiều, tập trung ở Đại bái, nhưng được thể hiện đa dạng. Còn nguyên vẹn nhất là bức chạm hoạt cảnh người đánh hổ trên xà vách, tiên cưỡi rồng với khuôn mặt hiền hòa, tai chảy dài, tóc vấn cao.

Chạm khắc trên các cấu kiện gỗ tại Đại bái

Cây cỏ và hoa lá cùng được chạm nhiều trên kiến trúc của ngôi đình này. Tre trúc thể hiện trên các cốn ở hồi Đại bái, với thân mập mạp, rõ từng đốt, có chỗ chạm biến thể thành trúc hóa rồng. Hình hoa cúc phù dung được chạm khá mềm mại với những cành lá uốn lượn sang hai bên. Hoa sen chạm trên kẻ ở Hậu cung với các chi tiết diễn tả vòng đời của cây sen, dưới đầm sen là cá, rùa rất sinh động mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.

Ngoài những chủ đề trên, các mảng trang trí trong đình Trùng Thượng còn có những hình tượng khác như: nghê, chim, vân xoắn… tạo nên sự sinh động, phong phú của các mảng chạm khắc trang trí trong đình.

Cặp nghê thờ phong cách nghệ thuật thế kỷ XVII được trưng bày tại di tích.

Dấu vết thời gian sớm nhất hiện còn trên kiến trúc là dòng chữ Hán ghi trên cột cái trước bên phải gian giữa: “Lê triều Đức Nguyên nhị niên, tuế thứ Ất Mão thập nhị nguyệt, thập cửu nhật lập trụ”. Tức là vào ngày 19, tháng 12, năm Đức Nguyên thứ 2, tức năm Ất Mão (1675) đình bắt đầu dựng cột.

Sự kiện này cũng được nhắc lại trong văn bia gỗ được lập năm Tự Đức thứ 30 (1877): “Thôn Phú Nha và thôn Nam Phúc của ta phụng sự thờ cúng, nguyên có 5 gian Tiền đường làm vào năm thứ 2 niên hiệu Đức Nguyên (1675)”. Vào năm Vĩnh Thịnh thứ 5 (1709), đình được làm thêm hệ thống cửa võng ở hàng cột cái ở phía sau Đại bái.

Hiện trên cột cái sau bên trái gian giữa Đại bái còn ghi: “Lê Triều Vĩnh Thịnh ngũ niên, thái tuế Kỷ Sửu bát nguyệt, nhị thập nhật tác cử võng”; đồng thời trên y môn ở gian bên phải cũng ghi: “Tuế thứ Kỷ Sửu niên bát nguyệt, cốc nhật cấu tác cử võng sự” (1709). Đến thế kỷ XIX đình được tu sửa lớn. Từ thế kỷ XX trở lại đây, đình đã được tu bổ nhiều lần.

Văn bia gỗ được lập năm Tự Đức thứ 30 (1877)

Ngoài ra, đình Trùng Thượng còn lưu giữ được nhiều cổ vật có giá trị như: một đế ngai thờ chạm khắc niên đại thế kỷ XVII; 3 ngai thờ niên đại đầu thế kỷ XVIII; 1 bài vị niên đại thế kỷ XVIII; 2 nghê thờ bằng gỗ niên đại thế kỷ XVIII; 10 đạo sắc phong, sắc sớm nhất có niên đại Minh Mệnh thứ 5 (1824); 2 bài vị và ngai thờ niên đại thế kỷ XIX; Bia gỗ niên đại Tự Đức thứ 30 (năm 1877), ghi sơ lược quá trình xây dựng đình từ thời vua Lê Gia Tông Đức Nguyên thứ 2 (1675), xây dựng thêm vào thời Vĩnh Thịnh và trùng tu đình thời Tự Đức.

Như vậy, đình Trùng Thượng tuy không có qui mô to lớn về tổng thể, nhưng là một trong những ngôi đình có nghệ thuật điêu khắc trang trí vào loại đẹp nhất của Ninh Bình. Đây cũng là ngôi đình hiếm hoi còn giữ được những dòng ghi niên đại tuyệt đối khi khởi dựng đình vào năm Đức Nguyên thứ 2 (1675), cùng với kiểu vì nọc ngựa ở Đại bái có một ý nghĩa quan trọng trong quá trình biến thiên các loại hình liên kết kiến trúc gỗ cổ truyền của người Việt.

Bên cạnh những giá trị kiến trúc, nghệ thuật điêu khắc trang trí, đình Trùng Thượng còn bảo lưu được nhiều di vật có giá trị… cùng những giá trị văn hóa phi vật thể đặc sắc. Ngôi đình này là điểm tham quan, nghiên cứu về nghệ thuật kiến trúc, chạm khắc gỗ cũng như các sinh hoạt văn hóa dân gian khác.

Với những giá trị về lịch sử và kiến trúc, nghệ thuật, đình Trùng Thượng đã được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng cấp Quốc gia năm 2001.

Chú thích:

(1). Lý lịch di tích đình Trùng Thượng, tư liệu Sở Văn hóa Thể thao tỉnh Ninh Bình, năm 2012.

Sách Di tích và Danh thắng Ninh Bình tập 1, NXB Văn hóa dân tộc.

Nguồn: Sở văn hóa và thể thao Ninh Bình

Trở về đầu trang
   Đình Trùng Thượng thuộc thôn Tùy Hối xã Gia Tân tỉnh Ninh Bình thờ phụng thành hoàng làng Đông Hải đại vương Nguyễn Phục
0   Tổng số:

Các tin khác

  • Đình Cả- Di tích nổi bật gắn với tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
  • Vietnam Airlines khai thác sớm đường bay Thành phố Hồ Chí Minh-Colombo (Sri Lanka)
  • Đình làng Đình Cả, Tiên Du thờ phụng tướng Phạm Ban và Lý Hồng Nương công chúa
  • Nghè Bươu, Tiên Du thờ phụng thái úy Lý Thường Kiệt
  • Tìm sản phẩm “độc bản” cho du lịch Ðồng Nai
  • Công bố 2 đội thi xuất sắc nhất vào chung kết DIFF 2026
  • Bộ Y tế thông tin về khai báo y tế đối với người nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh Việt Nam
  • Đà Nẵng: Nâng cao nghiệp vụ du lịch cho cán bộ địa phương trong bối cảnh phân cấp mạnh mẽ
  • Đình làng Đổng Lâm, Gia Bình thờ tam vị nhân thần thời Hùng Vương thứ 17
  • Đình và miếu Tây Tựu, thờ phụng thần Bạch Hạc Tam Giang Đào Trường thời Hùng Vương
  • 12345...>>

Tin đọc nhiều

  • Đình Võ Liệt (Kỳ III): “Hẩm hiu” chốn di tích?

    Trong hơi thở của nhịp sống hiện đại, văn hóa là đặc trưng, là riêng là duy nhất phác...

    359
  • Lễ hội Đền Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi sắp diễn...

    Công tác chuẩn bị cho Lễ hội Đền Chiêu Trưng Đại Vương Lê Khôi năm 2026 đang được xã...

    353
  • Đình Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An...

    Đình Làng Việt là nơi lưu giữ tâm hồn người Việt và trí tuệ người Việt. Đình Võ Liệt (xã...

    339
  • Khám phá “thủ phủ” trái cây ở Đồng Nai

    Phường Bình Lộc được xem là “thủ phủ” trái cây của thành phố Đồng Nai, với các loại sầu...

    338
  • Ninh Bình triển khai nhiều giải pháp bảo đảm an...

    Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình vừa ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Kế hoạch của UBND...

    319

- Trang thông tin du lịch
- Email: didulich.net@gmail.com
 

© 2026 Trang thông tin du lịch