Đền Đức Ông tọa lạc tại thị trấn Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, nay thuộc xã Vĩnh Tường, tỉnh Phú Thọ. Đền thờ vị nhân thần là Đông Kinh Phán Quan Đại Vương Thượng Đẳng Phúc Thần, húy là Nguyễn Văn Nhượng có công lao đánh giặc Ai Lao và thờ vọng Công chúa của nước Chiêm Thành.
Đền Đức Ông thuộc địa giới hành chính của thôn Văn Trưng xưa. Đây là ngôi đền chung của 3 làng cổ: Thế Trưng, Văn Trưng và Vĩnh Trưng. Theo các thư tịch cổ, đền Đức Ông tiền thân là lăng Đức Ông cùng với lăng Bảo Trưng (xã Phú Đa) được xây dựng từ sau khi danh tướng Nguyễn Văn Nhượng mất, tức là vào thời Lý (thế kỷ 11), cách đây hơn 1000 năm.
Lăng Đức Ông xưa kia được xây to đẹp, đến thời Lê Trung hưng (cuối thế kỷ 18) bị tàn phá nặng nề, chỉ còn giữ được các đạo sắc phong và một số xà cột bằng gỗ. Nhân dân Tứ Trưng đã góp công sức di dời về vị trí hiện nay, xây dựng thành đền thờ, gọi là đền Đức Ông. Đến thời Nguyễn, đền được trùng tu, tôn tạo. Dấu vết còn lại hiện nay là những bẩy hiên ở hậu cung được chạm khắc hoa lá rất tinh xảo.
Năm 1963, nhân dân phá dỡ tòa tiền tế của đền để lấy vật liệu làm kho tập thể, trường học... Khoảng năm 1990 - 1991, địa phương cho xây dựng lại tòa tiền tế trên nền cũ nhưng làm theo kiểu tường hồi bít đốc, quá giang gối tường, mái lợp ngói Sông Cầu. Những năm sau đó, đền được tôn tạo khuôn viên, xây cổng, lát sân...
Đền Đức Ông được xây dựng vào cuối thế kỷ 18, trùng tu vào giai đoạn đầu thế kỷ 20, phục dựng tòa tiền tế cuối thế kỷ 20 và tu sửa hậu cung, thay thế những cấu kiện kiến trúc bị hỏng vào đầu thế kỷ 21.
Đền Đức Ông hiện có tòa Tiền tế và Hậu cung. Tòa Hậu cung còn giữ được đa phần kiến trúc gốc thời Lê. Chính vì vậy, các mảng chạm khắc trang trí được thể hiện trên hầu hết các cấu kiện gỗ, từ ngoài cửa vào bên trong hậu cung như: Ván nong, cốn mê, cốn nách, đầu bẩy, đều được đục bong, chạm thủng hay chạm nổi rồng phượng, kim nghê, vân mây, hoa lá, chim muôn rất phong phú, sinh động.
Các mảng chạm khắc đặc sắc nhất được thể hiện trên ba vì kèo và cửa khám thờ hậu cung. Các bức chạm theo chủ để rồng, đan xen là vân mây, linh thú, hoa lá cách điệu. Những tác phẩm này được thực hiện rất tỉ mỉ, tinh xảo với kỹ năng điêu luyện.






Đền Đức Ông hiện còn lưu giữ các cổ vật có giá trị cao như ngai thờ, mâm xà, mâm ấu, bát hương, viên đá thờ, án gian, bộ bát bửu, hoành phi, chó đá, phù điêu hình rồng... có niên đại từ khoảng thế kỷ 17 đến thế kỷ 20.
Đền còn lưu giữ được 13 đạo sắc phong của các triều đại phong kiến, trong đó sắc phong có niên đại sớm nhất là Cảnh Hưng nguyên niên (năm 1742); 3 cuốn tài liệu viết bằng chữ Hán nói về vị thần được thờ ở đền Đức Ông (niên đại thế kỷ 17 - 19); 1 chóe độc long (thế kỷ 19); 1 hòm sắc (thế kỷ 1).
Lễ hội chính của đền được tổ chức hàng năm vào mùng 6 – mùng 7 tháng Giêng: Ngày giỗ Đức Ông (lễ hội khai xuân - hội Rưng,); Tiệc ngày 23 tháng Tám: Tiệc hát nhà trò; Tiệc ngày 21 tháng Mười Một: Tiệc bánh dày.
Đền được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia – di tích kiến trúc, nghệ thuật ngày 29/12/2023.
Ngọc Thắng
Nguồn: Báo Phú Thọ