Đình Giẽ Hạ thuộc thôn Giẽ Hạ thuộc xã Phú Yên, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, thờ phụng Quảng Bác Uyên Dung đại vương, hoàng tử con Hùng Huy Vương và Chính phi Tiên Dung Châu. Ngài nhiều lần hiển linh phù giúp các triều đại đời sau chống giặc ngoại xâm.
Đình Giẽ Hạ toạ lạc trên dọi đất phía cuối làng Giẽ Hạ. Đầu thế kỷ XIX, thôn Giẽ Hạ có tên là thôn Hạ, thuộc tổng Thịnh Đức Hạ, huyện Phú Xuyên, phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam Thượng.
Đình thờ Thượng đẳng thần Quảng Bác Uyên Dung đại vương. Theo sự tích, thần là con của Vua Hùng thứ 8 là Huy Vương và Tiên Dung Châu là cung phi chính nhất. Tiên phi sinh được năm người con trai. Sinh thời, năm người đều lập được nhiều chiến công dẹp giặc đem lại bình yên cho đất Văn Lang, được triều đình khen ngợi và sắc phong là Lạc hầu, Lạc tướng.
Đức Thánh Cả (anh Cả) thờ ở xã Hồng Quang, huyện Ứng Hòa, Đức Thánh Hai – Quảng Bác thờ ở đền Ba Sa và đình Giẽ Hạ; Đức Thánh Ba được thờ ở đền Bìm Bái – Phú Xuyên; Đức Thánh Tư được thờ ở Hòa Mạc – tỉnh Hà Nam; Đức Thánh Năm được thờ ở ngã ba Lượng – giữa huyện Phú Xuyên với huyện Duy Tiên, Hà Nam. Cả 5 anh em khi sống đều giỏi sông nước nên đều được thờ ở các ngã 3 sông và đều được phong là thủy thần.
Trong đình Giẽ Hà có bức hoành phi ghi chữ: Giám ngoại trường giang, tước hiệu Sa giang thánh Đức thượng đẳng thần Quảng Bác uyên chung tối linh Đại vương, gọi chung là thần Quảng Bác.
Chuyện kể rằng, khi vua Lê Thần Tông chuẩn bị đi đánh giặc có sai người cầu đảo thì 1 vị thần linh hiện lên, tự xưng là Quảng Bác, hứa giúp vua dẹp giặc. Khi thắng trận trở về, vua Lê Thần Tông liền truy tìm tông tích rồi cho lập đền thờ và đến trại Phúc Trang đề tặng đôi câu đối với nghĩa: Mượn lá cờ của Đức Quảng Bác đã giúp dẹp tan giặc để cứu nước, Xứng đáng được biển đề như vậy. Ngoài Giẽ Hạ, vùng Phú Xuyên còn có 4 nơi thờ thần Quảng Bác. Các triều đại sau, theo vua Thần Tông, phong tặng Ngài tước hiệu. Không chỉ ghi nhớ công lao thần Quảng Bác, nhân dân Giẽ Hạ còn lập ban thờ thờ mẹ Ngài – Bà Dung Châu Công chúa ở bên trái đình, còn gọi là đền Thánh mẫu.
Khi các ngài hoá, các triều đại ghi nhớ công lao, cấp sắc mỹ tự, tôn phong Thượng đẳng thần. Nhân dân ở nhiều nơi của tổng Thịnh Đức: thôn Thượng, thôn Hạ, thôn Thần, thôn Cầu, thôn Bùng đều lập đình, miếu thờ phụng ngài.
Đình Giẽ Hạ là một công trình kiến trúc quy mô to lớn và đồ sộ theo kiểu chữ Nhất. Đây là một trong những đặc trưng kiến trúc của thế kỷ 17, những ngôi đình kiến trúc ở những thế kỷ sau, người ta thường xây thêm chuôi vồ gắn với hậu cung; đình Giẽ Hạ nhìn về hướng Tây Nam, trước cửa đình là hồ đình, được người xưa đào theo hình bán nguyệt. Ngay ở cổng đình hiện tại dân làng còn giữ được ba tấm bia đá thời Lê. Bia “Kính thù đường khánh Vĩnh Diên bi” được khắc vào năm Phúc Thái Định Hội (1647). Bia “Hậu thần bi ký” được khắc vào năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), bia “Phụng Thiền bi ký” được khắc vào năm Bảo Thái thứ 5 (1724). Nội dung bia nói về công lao của tướng quân Đặng Huấn đã giúp Lê - Trịnh diệt Mạc. Các bia khác ghi công họ Dương và dân làng đã cúng tiến tu bổ di tích.
Đình Giẽ Hạ là một đình có kiến trúc quy mô to lớn mà nhiều người biết đến, theo các cụ cao niên, trước kia đình Giẽ Hạ là một ngôi đình nhỏ được dựng ở phía đông của làng nên gọi là đình Đông. Vào giữa thế kỷ 17, họ Đặng ở đình Giẽ Hạ có cụ Đặng Đình Tướng (bác ruột Đô đốc Đông lĩnh hầu Đặng Tiến Đông tướng của vua Quang Trung). Ứng quận công Đặng Đình Tướng vâng lệnh vua Lê vào trấn nhận ở Nghệ An. Cai quản vùng Thanh - Nghệ lâu năm, ở đây, cụ sai người em con nhà chú là Vân Trung hậu Đặng Đình Bác sau được thăng lên Vân Quận Công đi kén mua gỗ lim đủ làm 5 gian và 2 giải vũ gửi về cho làng.
Theo gia phả họ Đặng, sự kiện này diễn ra vào năm Chính Hòa thứ 7 (1686). Sau khi có gỗ đó, dân làng đã đứng ra xây dựng đình làng. Đình được xây dựng 5 gian 2 dĩ, nền đình được làm tam cấp lát đá tảng, đình được xây dựng theo hình thức 4 hàng chân gỗ với vì nóc kiểu cột trốn chống nóc. Hệ thống cột gỗ lim khá đồ sộ.
Các mảng chạm khắc trang trí thời Lê phần lớn được giữ nguyên còn lại đến ngày nay. Đó là các đầu dư, các bức cốn, các mảng trang trí trên xà nách, trên thân cột trước cửa hậu cung… nghệ thuật trang trí điêu khắc mang cả hai yếu tố văn hóa cung đình và văn hóa dân gian. Bức cốn bên phải, gian giữa nhà đại bái điêu khắc tính “Rồng mẫu tử”, người xưa chạm khắc bên cạnh rồng mẹ là những con rồng con đang nô đùa quấn quýt. Rồng mẹ đưa tay lên nắm thân và cổ rồng con như đang trò chuyện rất xinh động và hồn nhiên. Cả bức cốn chạm khắc tới 15 con rồng lớn nhỏ mà nhìn không rối mắt. Cạnh ổ rồng là những họa tiết chạm nổi “người cưỡi voi”, “tiên cưỡi rồng”, “long nghê quần tụ”, bố cục rất tự nhiên và thoải mái.





Ở các bức cốn khác, ngoài các họa tiết rồng được thể hiện ở các tư thế khác nhau, ở đình Giẽ Hạ, người xưa còn chạm con nghê, một con vật trong tâm thức dân gian biểu hiện về sức mạnh, nghê cũng được chạm ở nhiều tư thế, có mạng chạm nổi một bầy nghê mẹ với 3-4 nghê con, có mảng chạm nổi ngựa chiến nằm nghỉ, người cưỡi rồng… phụ họa cho các mảng điêu khắc là những họa tiết hình đao mác, tia lửa thường thấy ở đình Tự Nhiên, huyện Thường Tín; đình Ngọc Than, huyện Quốc Oai; đình Hoàng Xá, huyện Ứng Hòa… những ngôi đình của thế kỷ 17, đặc điểm nổi bật của nghệ thuật thế kỷ XVI-XVII là sự phục hồi và phát triển vốn nghệ thuật dân gian cổ truyền thống.
Ngoài phần trang trí điêu khắc nói trên, nội thất đình Giẽ Hạ còn được tô điểm những con rồng được chạm theo lối tượng tròn gắn vào thân cột cái và các kẻ bẩy. Đặc biệt, gian giữa đại bái có trần gỗ sơn son thiếp vàng chạm nổi lưỡng long chầu nguyệt bằng chất liệu sơn ta rất công phu.
Đặc biệt hơn nữa là hệ thống chân đá tảng đều được tạc cổ bồng. Hiện, di tích đình làng Giẽ Hạ còn lưu giữ được nhiều hiện vật như: long ngai bài vị, hương án, kiệu bát cống, bát bửu, tàng lọng, y môn, hoành phi câu đối…
Hàng năm vào ngày 12 tháng 6 âm lịch, 6 thôn của tổng Thịnh Đức cũ lại mở đám lớn lễ hội cầu phúc, xưa dài 10 ngày. Nay thì ngày 11 làm lễ Bao sái mộc dục dâng cúng thanh bông hoa quả; ngày 12 làm lễ chính cầu phúc, trong đó có cờ quạt rước Thủy thần về nhập tịch, tổ chức hát xướng, dâng cúng hoa quả, cỗ chay và xôi, rượu, gà, lợn. 12 tháng 11 âm lịch là ngày hóa của Thần thì làm lễ cầu phúc dâng cúng thanh bông hoa quả, cỗ chay. Rằm tháng Giêng kỷ niệm Tiên Mẫu giáng hạ: dâng lễ cỗ chay, cắt giấy ngũ sắc, tổ chức ca hát. Ngày 10 tháng 2 âm lịch: tế Xuân (lễ vật tùy nghi). Ngày 10 tháng 5 âm lịch: lễ cơm mới (tùy nghi). Ngày 10 tháng 8 âm lịch: tế thu (tùy nghi).
Đình Giẽ Hạ được công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1994.
Nguồn: Người Hà Nội