Tọa lạc tại xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ, Đền Phú Đa (còn gọi là đền Đá) thờ Lăng Phương Hầu Nguyễn Danh Thường thời Lê. Đền nổi tiếng với nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc đá tinh xảo thời Hậu Lê.
Đền Phú Đa trước kia thuộc xã Phú Hoa, tổng Tang Trác, huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, trấn Sơn Tây; nay là xã Phú Đa, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, nay là xã Vĩnh Phú, tỉnh Phú Thọ. Đền có tên gọi khác là Đền Đá hay Đền Quan Thị, được xây dựng trong giai đoạn từ 1740 - 1786 bằng đá xanh và gỗ lim.
Với tuổi đời hơn 300 năm, đền đá Phú Đa là một trong những di tích lịch sử lâu đời nhất tỉnh Phú Thọ. Trải qua nhiều giai đoạn dài và có nhiều biến cố, nhưng ngôi đền vẫn giữ được những nét kiến trúc độc đáo, đậm chất văn hóa Việt cổ.
Bao quanh đền 3 mặt là hồ nước mênh mông. Đền được xây dựng ngay sát chân đê, giữa vùng trũng nước. Trong lịch sử, thậm chí nơi này đã từng xảy ra lũ lụt, nhưng ngôi đền vẫn đứng vững trước thiên tai.
Đền vốn là một ngôi sinh từ, tức lập đền thờ khi đang còn sống của Lãng Phương Hầu Nguyễn Danh Thường (có tài liệu chép là Nguyễn Danh Thưởng), một danh tướng có công với triều đình dưới thời vua Lê Hiển Tông, niên hiệu Cảnh Hưng cuối thế kỷ XVIII.
Theo sách sử ghi lại, Nguyễn Danh Thường xuất thân từ một gia đình nông dân nghèo, nhờ dung mạo khôi ngô, thông minh, có tư chất hơn người từ nhỏ, cậu bé Thường đã được một vị quan Thượng thư nhận về làm con nuôi.
Khi trưởng thành, cậu được đưa về kinh thành Thăng Long học văn, võ và thi đỗ làm quan. Ông thường được Triều đình Lê – Trịnh phái đi dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân. Nguyễn Danh Thường đã trấn áp thành công nhiều cuộc khởi nghĩa, có nhiều công lao với triều Lê. Ông được phong là Lãng Phương Hầu, tham mưu quân Đô đốc phủ, Khâm sai kiểm sát thất thành, trấn thủ cả một vùng rộng lớn từ Sơn Tây đến Thái Nguyên.
Ngôi đền được xây dựng trong 40 năm, từ năm 1646 đến năm 1686, cách đây gần 400 năm, khi đó cụ Nguyễn Danh Thường còn sống và đang làm quan trong triều Lê. Cho đến nay, ngôi đền chỉ trải qua vài lần tu sửa nhỏ. Ngôi đền được xây dựng hoàn toàn bằng nguồn tiền của chính cụ Thường.
Đền có kiến trúc hình chữ tam gồm cổng đền, đại bái và hậu cung nằm song song. Nguyên vật liệu chính là đá được vận chuyển từ Thanh Hóa ra để xây dựng, từ móng đến tường cho ngôi đền và các phần khác của ngôi đền.
Tất cả các chi tiết từ bậc thềm, tượng lính canh, voi, ngựa, văn bia, sập thờ... đều được làm từ đá Thanh Hóa.
Hai bên tả hữu sân Đền là hàng tượng lính canh, voi đá, ngựa đá với các chi tiết tạo hình sống. Gian đại bái ở Đền Phú Đa có nền và nhiều chi tiết làm bằng đá thể hiện sự tài hoa của nghệ nhân xưa.
Trong Hậu cung, ban thờ, sập thờ đều được làm bằng đá. Đặc biệt, hai vị quan văn ngồi hai bên trước cửa chính của hậu cung với thần thái sống động. Trong hậu cung có 5 ngai thờ chia làm hai hàng, hàng đầu là ngai thờ bằng đá của cụ Nguyễn Danh Thường.
Dùng đã trải qua gần 300 năm, nhưng kết cấu bộ khung đền vẫn rất bền vừng. Các cột gỗ lim vẫn vững chắc không hề bị mối mọt. Đền cũng còn lưu giữ được các cấu kiện gỗ của bộ vì như xà, kẻ hiên hay y môn, cửa võng nguyên vẹn, được các nghệ nhân chế tác tỷ mỉ, chau chuốt và tạo hình sống động.
Trong đền có 10 tấm bia đá khắc bằng chữ nôm, nội dung mang hàm ý răn dạy thế hệ sau về đạo đức, lối sống cũng như các ngày giỗ kỵ cùng hương ước của làng xã để nhân dân làm theo.


Đền Đá xã Phú Đa nằm cạnh triền đê sông Hồng với ba mặt là hồ nước bao quanh.

Hai trụ đá ở trước cổng đền vẫn sừng sững cùng thời gian.



Một trong các pho tượng lính canh bằng đá đặt trong sân Đền Phú Đa.


Ông Nguyễn Danh Nhân - thủ từ Đền Phú Đa giới thiệu về ý nghĩa của 1 trong các tấm bia đá đặt tại đây.


Tượng chó đá và lính canh ở hai bên Cổng đền vẫn còn khá nguyên vẹn.

Hai bên tả hữu sân Đền là hàng tượng lính canh, voi đá, ngựa đá với các chi tiết tạo hình sống động thể hiện tài năng của nghệ nhân xưa.



Gian đại bái ở Đền Phú Đa có nền và các vật dụng chế tác bằng đá xanh.

Sập đá, ban thờ bằng đá trong hậu cung của Đền Đá.

Hai vị quan văn ngồi hai bên trước cửa chính của hậu cung với thần thái sống động.

Trong hậu cung có 5 ngai thờ chia làm hai hàng, hàng đầu là ngai thờ bằng đá của cụ Nguyễn Danh Thường.

Các cột gỗ lim trong đền vẫn vô cùng vững chãi trong gần 300 năm qua.


Các cấu kiện gỗ như xà, kẻ hiên hay y môn, cửa võng đều được người xưa bào trơn, đóng bén, soi gờ kẻ chỉ và chạm khắc trang trí.

Đá được vận chuyển từ Thanh Hóa ra để xây móng, tường được xây bằng đá ong.
. Đền đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia từ năm 1990. Sắp tới, cơ quan văn hóa của Tỉnh sẽ có kế hoạch đầu từ, mở rộng, bổ sung thêm một số hạng mục để phát huy hơn nữa những giá trị về kiến trúc, nghệ thuật và văn hóa của ngôi đền.
Minh Tâm
Nguồn: Báo GD&TĐ